Từ những năm 1960-1970, nhiều người Thụy Sĩ đã tham gia phong trào phản đối chiến tranh, lên tiếng ủng hộ độc lập, hòa bình cho Việt Nam. Sau chiến tranh, tình đoàn kết ấy tiếp tục bằng các hoạt động nhân đạo, hỗ trợ cộng đồng và đồng hành với những người còn chịu hậu quả chiến tranh, trong đó có các nạn nhân chất độc da cam/dioxin.
Hội Thụy Sĩ - Việt Nam (Association Suisse-Vietnam - ASV) chính thức thành lập ngày 27/11/1982, trên nền tảng phong trào đoàn kết với Việt Nam trong những năm 1960-1970. Nhiều công dân Thụy Sĩ khi đó tham gia các cuộc biểu tình phản đối chiến tranh, vận động dư luận ủng hộ quyền độc lập, tự quyết của nhân dân Việt Nam và lên án việc sử dụng chất độc hóa học trong chiến tranh. Sau chiến tranh, các hoạt động đoàn kết được tiếp nối bằng hỗ trợ tái thiết, hoạt động nhân đạo và thúc đẩy tình hữu nghị giữa nhân dân hai nước.
Gắn bó với Việt Nam qua hoạt động nhân đạo
Bà Margrit Schlosser, Chủ tịch đầu tiên của Hội Thụy Sĩ - Việt Nam là nhà hoạt động nhân đạo có hơn bốn thập niên gắn bó với Việt Nam.
![]() |
| Liên hiệp các tổ chức hữu nghị TP.HCM tặng biểu trưng của Liên hiệp cho ông Marco Medici (thứ tư từ phải sang), Ủy viên Hội Thụy Sĩ - Việt Nam, bà Margrit Schlosser (thứ ba từ phải sang), đại diện Terre des Hommes Lausanne tại TP.HCM, nguyên Chủ tịch Hội Thụy Sĩ - Việt Nam. (Ảnh: Bà Nguyễn Thị Mỹ Tiên cung cấp) |
Từng công tác tại Ủy ban Chữ thập đỏ Quốc tế (ICRC), Caritas Thụy Sĩ và Terre des Hommes Lausanne, năm 1981, bà có chuyến công tác đầu tiên xuyên Việt Nam. Những hậu quả nặng nề của chiến tranh mà bà tận mắt chứng kiến trong chuyến đi đã thôi thúc bà gắn bó lâu dài với Việt Nam.
Trong gần hai thập niên sinh sống và làm việc tại Việt Nam, bà trực tiếp điều phối nhiều chương trình phát triển cộng đồng, chăm sóc sức khỏe, bảo trợ trẻ em, hỗ trợ người nghèo và các nhóm dễ bị tổn thương. Các dự án của Caritas Thụy Sĩ và Terre des Hommes Lausanne trong lĩnh vực y tế, giáo dục và phát triển cộng đồng cũng được triển khai trong thời gian này.
Với những đóng góp cho hoạt động nhân đạo và quan hệ hữu nghị Việt Nam - Thụy Sĩ, bà được Liên hiệp các tổ chức hữu nghị Việt Nam trao tặng Kỷ niệm chương “Vì hòa bình, hữu nghị giữa các dân tộc”.
Năm 2011, sau khi nghỉ hưu và trở về Thụy Sĩ, bà vẫn tiếp tục hoạt động thiện nguyện, vận động tài chính cho các dự án hỗ trợ nạn nhân chất độc da cam/dioxin và hợp tác với Hội Nạn nhân chất độc da cam/dioxin Việt Nam (VAVA) trong các chương trình hỗ trợ, vận động quốc tế.
Tình đoàn kết từ những năm phản chiến
Bà Anjuska Marija Weil tham gia phong trào phản đối chiến tranh Việt Nam từ năm 1966.
Năm 1968, gia đình bà cưu mang anh Đoàn Sơn, một thiếu niên Việt Nam bị bỏng nặng do bom napalm, được tổ chức Terre des Hommes đưa sang Đức và Thụy Sĩ điều trị. Mẹ bà nhận anh Sơn làm con nuôi, từ đó anh trở thành một thành viên trong gia đình. Câu chuyện này tạo nên mối gắn bó đặc biệt giữa bà Anjuska Weil với Việt Nam.
Từ năm 1994 đến nay, bà giữ cương vị Chủ tịch Hội Thụy Sĩ - Việt Nam, tiếp tục các hoạt động ngoại giao nhân dân và mở rộng quan hệ hợp tác giữa hai nước.
![]() |
| Nguyên Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình (thứ tư từ phải sang, hàng đầu) gặp mặt bạn bè quốc tế nhân kỷ niệm 40 năm giải phóng miền Nam (30/4/1975-30/4/2015), trong đó có bà Anjuska Marija Weil (ngoài cùng bên trái, hàng đầu), Chủ tịch Hội Thụy Sĩ - Việt Nam. (Ảnh: Bà Nguyễn Thị Mỹ Tiên cung cấp) |
Dưới sự lãnh đạo của bà, Hội triển khai nhiều chương trình hỗ trợ nạn nhân chất độc da cam/dioxin, vận động quyên góp cho các dự án nhân đạo, xây dựng trường học, hỗ trợ người bệnh phong, phát triển tín dụng vi mô, cải thiện điều kiện y tế và giáo dục tại nhiều địa phương của Việt Nam.
Tại Thụy Sĩ, Hội tổ chức các triển lãm, hội thảo, diễn đàn và Ngày Đoàn kết với Việt Nam nhằm nâng cao nhận thức của công chúng về hậu quả chiến tranh và gây quỹ cho các chương trình nhân đạo. Hội cũng phối hợp với VAVA trong hỗ trợ nạn nhân và vận động dư luận quốc tế vì công lý đối với các nạn nhân chất độc da cam.
Bà Anjuska Marija Weil được trao Kỷ niệm chương “Vì hòa bình, hữu nghị giữa các dân tộc” và Huân chương Hữu nghị của Nhà nước Việt Nam năm 2006. Năm 2021, Hội Thụy Sĩ - Việt Nam được Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam trao tặng Huân chương Hữu nghị vì những đóng góp trong việc tăng cường tình hữu nghị giữa nhân dân hai nước.
Tiếp tục đồng hành cùng nạn nhân da cam
Ngày 19/1/1969, ba thanh niên Thụy Sĩ Olivier Parriaux, Bernard Bachelard và Noé Graff bí mật trèo lên đỉnh Nhà thờ Đức Bà Paris, treo lá cờ của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam.
Lá cờ rộng 17,5 m², do phu nhân ông Bernard Bachelard may bằng lụa, tung bay trên đỉnh nhà thờ trong nhiều giờ, tạo tiếng vang lớn trên truyền thông Pháp và quốc tế. Cảnh sát Pháp phải huy động trực thăng và mất khoảng 11 giờ mới gỡ được lá cờ.
Danh tính ba người thực hiện hành động này được giữ kín trong nhiều thập niên. Đến năm 2023, khi cuốn sách Le Viet Cong au sommet de Notre-Dame (Việt Cộng trên đỉnh Nhà thờ Đức Bà) được xuất bản, câu chuyện mới được công bố đầy đủ hơn.
Theo ông Olivier Parriaux, điều quan trọng không phải tên tuổi của những người thực hiện việc treo cờ mà là để thế giới biết rằng nhân dân Việt Nam không đơn độc trong cuộc đấu tranh giành độc lập và hòa bình.
![]() |
| Từ trái qua: Ông Olivier Parriaux và ông Bernard Bachelard, hai trong số ba người treo lá cờ Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam trên đỉnh tháp nhà thờ Đức Bà Paris (Pháp) năm 1969, trong chuyến thăm TP.HCM vào tháng 11/2024. (Ảnh: Báo Dân trí) |
Tháng 11/2024, ông Olivier Parriaux và ông Bernard Bachelard trở lại Việt Nam. Tại Thành phố Hồ Chí Minh, hai ông thăm Địa đạo Củ Chi, Bảo tàng Chứng tích Chiến tranh và Làng Hòa Bình. Các ông đồng thời bày tỏ sự ủng hộ đối với các nạn nhân chất độc da cam/dioxin, trong đó có việc đồng hành cùng bà Trần Tố Nga, người nhiều năm theo đuổi vụ kiện các tập đoàn hóa chất của Mỹ liên quan đến chất độc da cam, trong hành trình đấu tranh vì công lý.
Ông Olivier Parriaux cho biết, họ đang kêu gọi nguồn lực tại Thụy Sĩ để hỗ trợ chi phí pháp lý của vụ kiện, đồng thời làm việc với những người có sức ảnh hưởng tại Thành phố Hồ Chí Minh và tìm cách hợp tác với các tổ chức để hỗ trợ cuộc đấu tranh này.
Trong chuyến thăm, lãnh đạo Thành phố Hồ Chí Minh trao Huy hiệu Thành phố Hồ Chí Minh cho ông Olivier Parriaux và ông Bernard Bachelard, ghi nhận những đóng góp của hai ông đối với phong trào đoàn kết với Việt Nam.
Theo Thời đại






.jpg)


