
Đại sứ Vương quốc Ma-rốc tại Việt Nam trả lời phỏng vấn (Ảnh: NN)
PV. Xin cảm ơn ông đã dành cho phóng viên trang Vietpeace.org.vn cuộc trò chuyện này. Ông có thể chia sẻ những kỷ niệm sâu sắc về đất nước và con người Việt Nam trong nhiệm kỳ Đại sứ 10 năm của mình?
Trong suốt 10 năm sống tại Việt Nam tôi có nhiều cơ hội tìm hiểu con người và đất nước Việt Nam. Tôi đã được đi thăm nhiều danh lam thắng cảnh ở Việt Nam. Tôi đã đi Quảng Trị thăm chiến trường xưa để thấy được những hi sinh và khó khăn của các thế hệ Việt Nam đi trước. Tôi đến Sapa ngắm phong cảnh hữu tình và thơ mộng. Tôi ấn tượng với Nha Trang có bờ biển rất dài và đẹp.
Vợ tôi ở Việt Nam có cơ hội học tập về vẽ tranh sơn mài và sơn dầu. Đầu năm nay, vợ tôi có mở triển lãm tranh bên Bảo tàng dân tộc. Sau một thời gian dài sinh sống tại Việt Nam, cảnh vật nơi đây đã truyền cảm xúc và nguồn cảm hứng để vợ tôi sáng tạo nên những tác phẩm nghệ thuật của mình. Chúng tôi đã được biết rất nhiều nghệ sỹ Việt Nam để học hỏi từ họ như làm tranh sơm mài, vẽ tranh sơn dầu và rất nhiều thể loại khác.
Tôi rất gắn bó với Việt Nam và tôi có nhiều kỷ niệm ở nơi này.
Ông đánh giá thế nào về mối quan hệ hai nước? Ông gặp khó khăn và thách thức gì trong quá trình phát triển mối quan hệ hữu nghị giữa Việt Nam – Ma–rốc?
Trong suốt 10 năm tôi công tác cũng là thời điểm Việt Nam và Ma-rốc đã có bước tiến phát triển trong quan hệ hợp tác. Hai nước đã ký rất nhiều hiệp định về kinh tế, thương mại, hiệp định về tránh đánh thuế hai lần, hiệp định trong các lĩnh vực giáo dục, khoa học, hải quan… Chúng tôi có chương trình trao đổi học bổng với Việt Nam. Hiện tại bên Ma-rốc có 15 sinh viên Việt Nam sang du học và tôi mong muốn ngày càng có nhiều sinh viên Việt Nam sang Ma-rốc để học tập.
Về mặt trao đổi thông tin báo chí, có nhiều nhà báo Pháp ngữ ở Việt Nam sang Ma – rốc tham gia các khóa đào tạo và thực tập ở đất nước chúng tôi.
Về mặt chính trị, trao đổi đoàn giữa hai nước thường xuyên duy trì. Đã có đoàn của Thủ tướng, Chủ tịch Quốc hội Ma-rốc từng sang Việt Nam để thăm và làm việc.
Lĩnh vực thương mại gặp nhiều khó khăn hơn, bởi khoảng cách địa lý và thói quen làm việc của các doanh nhân, doanh nghiệp Ma – rốc không giống với ở Việt Nam. Các doanh nghiệp Ma-rốc có thói quen hợp tác ở trong vùng chứ không rộng rãi trên toàn thế giới.
Đại sứ quán Việt Nam cũng như Đại sứ quán Ma – rốc rất nỗ lực góp phần thúc đẩy mối quan hệ nhiều mặt giữa Việt Nam và Ma- rốc.
Trên lĩnh vực thương mại, kinh tế, tôi nghĩ điều quan trọng nhất là tạo được lòng tin cho nhau. Khối doanh nghiệp Việt Nam và Ma- rốc hi vọng sẽ thiết lập được nhiều hơn nữa những mối quan hệ giao dịch thương mại để phát triển kinh tế hai nước rộng rãi hơn.
Tôi rất lạc quan về mối quan hệ hữu nghị, hợp tác giữa hai bên vì các nhà lãnh đạo hai nước luôn quan tâm thúc đẩy mối quan hệ này.
3. Ông đánh giá như thế nào về vai trò của đối ngoại nhân dân đối với việc phát triển quan hệ hữu nghị giữa nhân dân Việt Nam và Ma-rốc?
Tôi cho rằng đối ngoại nhân dân có vai trò quan trọng trong việc phát triển quan hệ hữu nghị, hợp tác giữa hai nước chúng ta. Đại sứ quán chúng tôi đã phối hợp chặt chẽ với Liên hiệp các tổ chức hữu nghị Việt Nam, Hội Hữu nghị Hợp tác Việt Nam – châu Phi và các địa phương Việt Nam trong việc tiến hành các hoạt động đối ngoại nhân dân. Tôi luôn đánh giá cao hoạt động của Hội hữu nghị Việt Nam – Châu Phi với vai trò cầu nối vô cùng quan trọng trong việc thúc đẩy, giao lưu văn hóa để hai dân tộc Việt Nam – Ma-rốc và các dân tộc khác trên thế giới xích lại gần nhau hơn.
Nhiệm kỳ Đại sứ tại Việt Nam cũng là nhiệm kỳ cuối cùng trong sự nghiệp ngoại giao của tôi. Sau khi về nước, trên bất cứ cương vị nào tôi cũng sẽ làm hết sức mình để giữ gìn và phát huy mối quan hệ hữu nghị truyền thống, đoàn kết và hợp tác giữa hai nước Việt Nam – Ma-rốc.
NN